P.V: Cao Bằng là địa phương đầu tiên trong cả nước triển khai hệ thống số để đánh giá cán bộ, công chức, viên chức. Theo đồng chí, đâu là thách thức lớn nhất trong quá trình chuyển từ phương thức đánh giá truyền thống sang đánh giá bằng dữ liệu?
Đồng chí Lý Thị Huệ: Phải nói thật rằng, rào cản lớn nhất không nằm ở phần mềm, cũng không phải ở kỹ thuật, mà nằm ở tư duy và thói quen đánh giá. Trong một thời gian dài, công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức ở nhiều nơi vẫn còn nặng về định tính, nhận xét chung chung, ngại va chạm, nể nang, dẫn đến tình trạng người làm nhiều, làm khó, làm việc thực chất đôi khi chưa được ghi nhận tương xứng; trong khi người làm chậm, làm ít cũng chưa bị chỉ rõ trách nhiệm.
Khi Cao Bằng quyết định đưa công nghệ số vào đánh giá, chúng tôi xác định đây không đơn thuần là việc chấm điểm cán bộ, mà là thay đổi phương thức quản trị công vụ. Từ chỗ đánh giá bằng cảm nhận, chúng ta chuyển sang đánh giá bằng nhiệm vụ cụ thể, sản phẩm đầu ra, tiến độ, chất lượng và mức độ hoàn thành. Đây là thay đổi rất lớn, bởi khi mọi việc được lượng hóa, được lưu vết trên hệ thống, thì trách nhiệm của từng cá nhân, từng phòng ban, từng người đứng đầu cũng rõ hơn.
Áp lực là có, thậm chí rất lớn. Nhưng nếu không vượt qua được tâm lý e dè, ngại minh bạch, thì rất khó nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Vì vậy, quan điểm của tỉnh là làm thận trọng, có lộ trình, vừa làm vừa hoàn thiện, nhưng phải kiên trì mục tiêu: đánh giá đúng người, đúng việc, đúng kết quả, khắc phục dần tình trạng cào bằng, hình thức.
Hệ thống được triển khai đến các sở, ngành và UBND các xã, phường; cấp tài khoản cho cán bộ, công chức thuộc phạm vi đánh giá; đồng thời tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ cho các đơn vị. Điều đó cho thấy tỉnh không coi đây là một phong trào nhất thời, mà là một bước đi trong tiến trình đổi mới quản trị hành chính, xây dựng nền công vụ minh bạch, trách nhiệm và hướng mạnh vào kết quả thực thi nhiệm vụ.
P.V: Sau một thời gian vận hành hệ thống, nhận thức và cách làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đã có những chuyển biến như thế nào? Thưa đồng chí?
Đồng chí Lý Thị Huệ: Ban đầu, một số cán bộ, công chức lo ngại rằng phần mềm sẽ trở thành công cụ soi lỗi, tạo thêm áp lực hành chính, hoặc đánh giá máy móc nếu chưa phản ánh đầy đủ tính chất phức tạp của từng nhiệm vụ. Điều đó là bình thường, bởi bất kỳ sự thay đổi nào đụng đến thói quen làm việc, thói quen đánh giá và trách nhiệm cá nhân đều cần thời gian để thích ứng.
Tuy nhiên, sau một thời gian vận hành, nhận thức đã có chuyển biến tích cực. Nhiều cán bộ bắt đầu thấy rằng hệ thống không chỉ tạo áp lực, mà còn tạo ra sự công bằng. Người làm việc có sản phẩm, có tiến độ, có kết quả sẽ được ghi nhận rõ hơn. Người được giao nhiều việc, xử lý nhiều nhiệm vụ phức tạp cũng có căn cứ để chứng minh khối lượng và chất lượng công việc của mình. Ngược lại, những nhiệm vụ chậm, quá hạn, hoặc không cập nhật kết quả cũng không còn “ẩn” trong báo cáo giấy.
Đến thời điểm tổng hợp, hệ thống đã đưa hơn 3.000 công chức vào theo dõi, đánh giá; trong đó có công chức khối sở, ngành và công chức khối UBND xã, phường. Hệ thống đã ghi nhận hàng nghìn lượt đánh giá trong 6 tháng đầu năm. Những con số này cho thấy dữ liệu đánh giá đã bắt đầu hình thành, dù tiến độ giữa các khối, các đơn vị còn chưa đồng đều và vẫn cần tiếp tục chuẩn hóa.
Điều quan trọng nhất là chúng tôi không đặt mục tiêu tạo ra một áp lực đơn thuần, mà muốn hình thành một văn hóa làm việc mới: giao việc phải rõ, theo dõi phải thường xuyên, kết quả phải có sản phẩm, đánh giá phải có dữ liệu. Khi cán bộ hiểu rằng phần mềm là công cụ để minh bạch hóa và bảo vệ người làm thật, làm tốt, thì sự thích ứng sẽ tích cực hơn rất nhiều.

P.V. Đồng chí có thể cho biết từ thực tiễn triển khai, hệ thống đã hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành và xử lý những điểm nghẽn trong thực hiện nhiệm vụ như thế nào?
Đồng chí Lý Thị Huệ: Một ví dụ rất rõ là qua quá trình vận hành, hệ thống không chỉ ghi nhận kết quả đánh giá cá nhân mà còn theo dõi nhiệm vụ của tổ chức. Khi dữ liệu được đưa lên phần mềm, chúng tôi nhận diện được ngay nhóm nhiệm vụ nào đang hoàn thành, nhóm nào còn hạn, nhóm nào đã quá hạn, đơn vị nào cập nhật tốt, đơn vị nào còn chậm. Theo số liệu tổng hợp, có hàng chục nghìn nhiệm vụ tổ chức được đưa lên phần mềm để theo dõi, đánh giá; trong đó hệ thống phân tách rõ nhiệm vụ đã hoàn thành, nhiệm vụ còn hạn và nhiệm vụ quá hạn. Riêng các nhiệm vụ do UBND tỉnh giao được hiển thị trên Dashboard của Chủ tịch UBND tỉnh, qua đó giúp lãnh đạo tỉnh theo dõi trực tiếp những nhiệm vụ còn chậm, quá hạn hoặc chưa cập nhật đầy đủ kết quả.
Nếu trước đây, những con số này có thể bị phân tán trong từng báo cáo riêng lẻ, từng văn bản đôn đốc, từng cuộc họp, thì nay hệ thống cho phép nhìn thấy bức tranh chung ngay trên Dashboard. Từ cảnh báo đó, Sở Nội vụ đã tham mưu hướng xử lý theo nhóm việc: nhiệm vụ nào quá hạn do chưa cập nhật thì yêu cầu cập nhật ngay sản phẩm đầu ra; nhiệm vụ nào vướng quy trình phối hợp thì báo cáo rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp; nhiệm vụ nào thuộc trách nhiệm người đứng đầu thì đưa vào diện phải giải trình, đôn đốc, theo dõi tiếp.
Điểm mới ở đây là chúng ta không chỉ hỏi chung chung vì sao chậm, mà có thể chỉ rõ nhiệm vụ nào chậm, chậm ở khâu nào, thuộc đơn vị nào, đang ở trạng thái nào. Nhờ đó, công tác chỉ đạo, điều hành chuyển từ nghe báo cáo sang quản trị bằng dữ liệu, từ nhắc nhở chung sang xử lý đúng điểm nghẽn. Đây là hiệu quả rất thực tế, vì nó giúp rút ngắn thời gian phát hiện vướng mắc và nâng cao trách nhiệm xử lý của từng cơ quan, đơn vị.
P.V. Theo đồng chí, cần những giải pháp gì để hệ thống phát huy hiệu quả quản trị, nhưng không tạo thêm gánh nặng thủ tục cho cán bộ, công chức?
Đồng chí Lý Thị Huệ: Đây là vấn đề chúng tôi rất quan tâm. Một phần mềm quản lý nếu thiết kế không tốt, vận hành không đúng, rất dễ biến thành thêm một tầng thủ tục. Khi đó, cán bộ không tập trung làm việc thật mà lại lo nhập liệu, lo hoàn thiện hình thức. Vì vậy, quan điểm của tỉnh là phần mềm phải phục vụ công việc, phục vụ quản trị, chứ không được tạo thêm gánh nặng không cần thiết cho cán bộ, công chức.
Để tránh điều đó, Cao Bằng đang tập trung vào một số hướng. Thứ nhất là chuẩn hóa danh mục sản phẩm, công việc ngay từ đầu, để cán bộ biết rõ nhiệm vụ nào cần cập nhật, sản phẩm đầu ra là gì, tiêu chí hoàn thành ra sao. Thứ hai là tiếp tục hoàn thiện kết nối giữa hệ thống quản lý văn bản, điều hành với hệ thống đánh giá, hạn chế việc nhập đi nhập lại nhiều lần. Thứ ba là phân cấp trách nhiệm rõ ràng cho người đứng đầu và đầu mối quản trị, không để tất cả công chức đều phải làm thủ công quá nhiều thao tác không cần thiết.
Chúng tôi cũng xác định phải vừa yêu cầu nghiêm, vừa hỗ trợ kỹ. Đối với các xã, phường, nhất là trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương 02 cấp, khối lượng việc lớn, điều kiện công nghệ và năng lực sử dụng phần mềm chưa đồng đều, Sở Nội vụ phối hợp với đơn vị cung cấp giải pháp tiếp tục tập huấn, hỗ trợ trực tuyến, hỗ trợ theo nhóm đơn vị còn chậm, đơn vị có nhiều nhiệm vụ quá hạn.
Mục tiêu cuối cùng không phải là có thật nhiều dữ liệu để báo cáo, mà là làm sao dữ liệu đó giúp lãnh đạo tỉnh, người đứng đầu cơ quan, đơn vị nhìn thấy đúng thực trạng, chỉ đạo đúng việc, xử lý đúng điểm nghẽn và đánh giá đúng con người. Khi phần mềm giúp giảm họp hành hình thức, giảm báo cáo thủ công, tăng tính minh bạch và nâng cao hiệu quả điều hành, thì khi đó công nghệ số mới thật sự trở thành công cụ hỗ trợ cán bộ, chứ không phải “cái ách” đối với cán bộ.
Cao Bằng không triển khai hệ thống này để tạo thêm áp lực hình thức, mà để xây dựng một nền công vụ minh bạch hơn, kỷ luật hơn, công bằng hơn và hướng mạnh hơn vào kết quả phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Khi dữ liệu trở thành căn cứ cho công tác chỉ đạo, điều hành, đánh giá, sử dụng cán bộ và nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, chuyển đổi số sẽ thực sự tạo động lực nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền hành chính, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn.
P.V: Xin cảm ơn đồng chí!
Tác giả bài viết: T.N (Thực hiện)
Những tin cũ hơn